* TỪ BI ĐÚNG LÀ CHÂN ÁI. ÁI NHƯ NGƯỜI THẾ GIAN ĐÃ NÓI CHÍNH LÀ HƯ TÌNH GIẢ Ý

TỪ BI ĐÚNG LÀ CHÂN ÁI.

ÁI NHƯ NGƯỜI THẾ GIAN ĐÃ NÓI

CHÍNH LÀ HƯ TÌNH GIẢ Ý

Giảng giải: Pháp Sư Tịnh Không

 

Chúng ta phải phát tâm, phải phát Bồ Đề tâm, những chuyện này đều thuộc trong Bồ Đề tâm. Do đó, Bồ Đề tâm là nhân.

Tâm đại bi trong tâm Bồ Đề là động lực căn bản để độ chúng sanh. Chẳng có tâm đặc biệt, sẽ chẳng có động lực ấy, chẳng mong làm. Vì có tâm đại bi, nên dẫu chúng sanh hoài nghi Quý Vị, thử thách Quý Vị lắm nỗi, Quý Vị vẫn chẳng buông bỏ, vẫn hết sức nghiêm túc nỗ lực thực hiện.

Đó là gì?

Đó là do lòng đại từ bi thúc đẩy. Kẻ chẳng học Phật, chẳng thâm nhập Phật Pháp sẽ chẳng biết, họ sẽ nghĩ người như vậy người có lòng đại từ bi rất ngốc nghếch, chẳng biết vì chính mình, chỉ biết vì chúng sanh, người như vậy quá đần độn.

Khéo sao Tổ Tiên có một câu nói:

Kẻ ngốc hưởng phước của kẻ ngốc, khá lắm, vẫn còn thật sự tu phước báo. Diễn từ biện, tùng từ tâm khởi thuyết dã.

Tịnh Ảnh Sớ viết:

Y từ khởi thuyết, danh diễn từ biện.

Diễn từ biện:

Do từ tâm mà thốt lên.

Tịnh Ảnh Sớ giảng:

Nương lòng từ mà nói ra thì gọi là diễn từ biện. Diễn là biểu diễn, giáo dục con người bằng hành động gương mẫu, chính mình làm được. Biện là ngôn giáo. Chúng ta thường nói là thân hành, ngôn giáo.

Diễn là gì?

Biện là gì?

Nói theo cách hiện thời là một tấm lòng yêu thương ái tâm. Nhà Phật nói từ bi, kẻ bình phàm chúng ta nói là tâm yêu thương. Ái tâm và từ bi có cùng một ý nghĩa, nhưng trong đó có chút bất đồng. Trong ái tâm có tình, chẳng có trí. Trong từ bi có trí, chẳng có tình, khác nhau ở chỗ này.

Vì thế, từ bi đúng là chân ái. Ái như người thế gian đã nói chính là hư tình giả ý, chẳng thật, đó là giả ái. Quý Vị thấy trong xã hội hiện tại, nam nữ kết hợp, kết hôn, đó là ái.

Họ chẳng yêu nhau, làm sao kết hôn cho được?

Kết hôn chưa được vài ngày lại ly hôn, nên tình yêu thương đó là giả, chẳng thật. Vì thế, người thế gian nói tôi yêu em, ngàn muôn phần đừng bị mắc lừa, giả trất, chẳng thật.

Được vài ngày liền trở mặt. Chỉ có lòng yêu thương của Phật, Bồ Tát là thật, vĩnh hằng, vĩnh viễn chẳng biến đổi, nên gọi là từ bi. Quý Vị thấy Thích Ca Mâu Ni Phật thuở tại thế, đã biểu diễn tám mươi năm, từ lúc Hạ Sanh liền biểu diễn cho chúng ta thấy, mãi cho đến lúc Lão Nhân gia Viên Tịch.

Chúng ta học Phật đã lâu bèn hiểu, Lão Nhân gia diễn tuồng, diễn cho chúng ta xem, diễn gì vậy?

Diễn đại từ đại bi.

Ngài trụ thế tám mươi năm để biểu diễn từ bi, để làm gì?

Chính vì thương xót Hữu Tình. Chúng ta có thể thấu hiểu thì mới có thể biết bắt chước Ngài, học theo Lão Nhân gia, học tập xác thực là thiện căn, phước đức, nhân duyên của chúng ta.

Ngài có phương pháp vô cùng hay, khéo, thiện căn thật sự sâu dầy, chúng tôi thường nói là thật thà, nghe thời, thật sự làm. Người như vậy thiện căn thuần hậu. Nếu người ấy tiếp nhận Phật Pháp, sẽ thành tựu nhanh chóng hơn người khác.

Căn tánh thông thường sẽ chẳng thể tiếp nhận hoàn toàn, luôn xen tạp ý nghĩ của chính mình vào trong ấy, đối với giáo huấn của thầy, ngay cả đối với giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni Phật luôn nẩy sanh hoài nghi. Nhất là chúng ta cách Ngài đã hơn ba ngàn năm.

Chúng ta luôn nghĩ những gì Lão Nhân gia đã nói tương ứng với xã hội trong hơn ba ngàn năm trước, cách làm ấy vẫn còn đúng cho hiện tại hay sao?

Còn có thể sử dụng hay không?

Chúng ta đều tự ngỡ chính mình thông minh, hiện tại là xã hội gì. Vì thế, dẫu là kính ngưỡng tiếp nhận, nhưng cũng bị giảm bớt rất lớn. Đến ngày nào thật sự ngộ nhập, mới biết chính mình đã đi đường vòng rất nhiều, đi sai chỗ rất nhiều, đó là chẳng nghe lời người già, chịu thua thiệt trước mắt.

Vẫn kể như là còn khá lắm, Quý Vị còn thoát ra được. Có nhiều kẻ đã đi mà chẳng thoát ra được, cứ đi loanh quanh mãi, chẳng biết đi đến nơi đâu, số này chiếm đại đa số. Một số ít coi như rất may mắn, còn thoát ra được. Sau khi đã thoát ra, bội phục giáo huấn của Phật năm vóc sát đất.

Vì thế, chúng ta phải biết:

Ta cũng từng đi đường vòng.

Chúng ta biết điều gì?

Kinh dạy Phật Phật đạo đồng, chẳng phải là một mình Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta như vậy, mà mười phương ba đời hết thảy Chư Phật đều nói theo cách này:

Trì Giới, tu định, khai trí huệ.

Trì Giới là gì?

Giữ quy củ, Đức Phật nói như thế nào, Quý Vị liền làm đúng như thế ấy, chớ nên giảm bớt, chớ nên biến đổi. Ngài là bậc từng trải, là bậc từ phàm phu đã tu thành Phật, Ngài hiểu rõ.

Chúng ta vô tri, chưa từng đi theo con đường ấy, đang sờ sẫm, thế mà Quý Vị chẳng nghe theo người khác chỉ điểm, vẫn mong lươn lẹo, trí trá, luôn mơ tưởng:

Chắc là trong ấy còn có con đường tắt, chúng ta hãy tìm xem, không chừng Phật cũng chưa phát hiện.

Chúng ta luôn có ý tưởng ấy, đó là gì?

Hiện thời gọi kiểu suy nghĩ đó là cách nhìn khoa học. Chẳng biết phương pháp của người ta là đúng. Quý Vị thấy người ta chẳng dùng tới khoa học hiện tại, chẳng sử dụng những dụng cụ khoa học tiên tiến nhất, chẳng dùng những thứ đó, cũng chẳng dùng toán học cao sâu, đều chẳng cần, mà tu thiền định.

Chúng ta chẳng tin vào thiền định, cứ tin vào khoa học, cứ nghĩ khoa học thấy được, chứ thiền định không thấy.

Người tu thiền định biết:

Thật sự đắc Định thì kích thước của thời gian và không gian bị đột phá, từ thiền định rất sâu thấy được nguyên khởi của Vũ Trụ, Vũ Trụ hình thành như thế nào?

Đức Phật đã thấy những chuyện đó từ ba ngàn năm trước ư?

Chẳng phải vậy. Thích Ca Mâu Ni Phật đã sớm thành Phật. Kinh Phạm Võng nói Ngài đến thế gian biểu diễn tám tướng thành đạo lần này chính là lần thứ tám ngàn. Kinh Phạm Võng nói như vậy, hé lộ một chút tin tức. Đúng là diễn từ biện.

Đức Phật thật sự đang biểu diễn, biểu diễn Ngài tu thành Phật như thế nào?

Ngài thị hiện cũng rất có ý nghĩa. Thị hiện là một người trẻ tuổi hiếu học, thích học rộng, nghe nhiều, mười chín tuổi đi tham học.

Gần như đối với các vị cao nhân trong tất cả các Tôn Giáo và tất cả các học phái tại Ấn Độ, Ngài đều từng thân cận, đều đến tham học, nhưng chúng ta phải chú ý:

Đây là chỗ học tập thật sự. Học nhiều dường ấy, đến cuối cùng, buông xuống toàn bộ, trở lại đường xưa.

Đường xưa là gì?

Nhập Định. Nhập Định bên Sông Hằng, dưới cội Tất Bát La, trở lại đường xưa, sở học trong mười hai năm đều buông xuống.

Chẳng buông xuống, sẽ chẳng thể khai ngộ, đó là gì?

Sở tri chướng. Trong hai thứ chướng, một là phiền não chướng, tức là tham, sân, si, mạn, những thứ ấy là phiền não chướng. Học một đống lớn như vậy là sở tri chướng, thảy đều chướng ngại Quý Vị tu định, chướng ngại Quý Vị khai ngộ. 

Tuy vậy, Kinh Phật cũng nói đến chuyện học rộng, nghe nhiều. Chúng ta đọc Kinh đều rất hời hợt, đều chẳng chú tâm.

Học rộng, nghe nhiều nói ở chỗ nào?

Trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện, đầu tiên là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, đấy là bảo Quý Vị phát tâm, phát tâm đại Bồ Đề mong phổ độ chúng sanh. Muốn độ chúng sanh, ắt phải có đức hạnh, có học vấn, nên chuyện đầu tiên là thành tựu đức hạnh của chính mình, tức là phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

Giai đoạn tu hành đầu tiên là đoạn phiền não, trì giới và tu định đều là đoạn phiền não, tức là kiến tư phiền não, trần sa phiền não, vô minh phiền não, phiền não chướng, sở tri chướng, toàn bộ đều phá, toàn bộ đều buông xuống.

****